Thừa hưởng truyền thống gia đình và quê hương, Lê Thân tài năng sớm xuất hiện, mới 10 tuổi đã lầu thông kinh sử, nổi tiếng thần đồng. Năm 18 tuổi đỗ đầu thi hương - Thủ khoa - Thường gọi là thủ khoa Nưa, văn chương nổi tiếng một vùng.
Năm Ất Hợi thời Trần Thánh Tông, niên hiệu Bảo Phù năm thứ 3 (1275), triều đình mở khoa thi tuyển dụng nhân tài. Lúc này Lê Thân 22 tuổi cùng các sĩ tử ra Thăng Long ứng thí. Khoa này Đào Tiêu (Đào Thục) đậu Trạng nguyên, Lê Thân đậu Bảng nhãn, Quách Nhân đậu Thám hoa, và 28 thái học sinh (Tiến sĩ). Người đầu tiên của huyện Nông Cống vào bậc Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Lê Thân được suy tôn là “Khai Khoa”, huyện Nông Cống. Khi mất được phối thờ ở Văn Miếu hàng huyện thờ Khổng Tử.
Hiện nay ở đền thờ ngài có đôi câu đối:
“Nông Cống Khai Khoa thế thế lưu danh Văn Miếu huyện
Trần triều Bảng nhãn niên niên phù hộ Cổ Na hương”
Lúc đầu Lê Thân được bổ dụng Hàn lâm học sĩ, sau thăng Ngự sử trung thừa; Biên tu Quốc sử quán, Đô ngự sử, thăng Thượng Thư bộ Lễ, Thượng thư bộ Lại; thăng Nhập nội hành khiển, Khu mật viện đô trị sử, Thái phó Luật Quốc Công. Tất cả đều đạt đỉnh cao tước phẩm. Học vị vào bậc Tam khôi, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Phẩm hàm cực phẩm triều đình: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Quan tước vào bậc tam công: Thái sư, Thái phó, Thái bảo.
Giữ trọng trách quốc gia trải 4 triều vua: Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Vào thời đại quân dân Đại Việt vừa thắng Nguyên Mông, đất nước thái bình thịnh trị. Lê Thân đã kiến nghị với triều đình nhiều kế sách trị quốc, an dân.
1. Trước hết chăm lo bồi dưỡng sức dân
Có kế sách chấn hưng kinh tế, phát triển nông nghiệp, mở mang giáo dục, làm cho đất nước hùng cường, đời sống vật chất và dân trí được nâng cao là kế sách trị quốc, an dân mầu nhiệm nhất.
Sau chiến tranh và những năm mùa màng thất bát nên giảm bớt sưu thuế, tránh nhũng loạn, phiền hà để khoan sức dân, tạo điều kiện để dân an cư lạc nghiệp.
2. Kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị.
Một quốc gia cường thịnh, dân chúng yên vui phải kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị. Nếu chỉ thiên về đức trị, coi nhẹ pháp luật, sức mạnh không toàn diện, kỷ cương lỏng lẻo. Ngược lại chỉ thiên về pháp trị, gia tăng hình phạt không được lòng dân, đất nước khó thanh bình, thịnh trị.
Đạo đức và nhân nghĩa là nền tảng, pháp luật giữ vững kỷ cương giường mối. Mọi người từ quan đến dân đều phải tuân thủ chuẩn mực về đạo đức và chuẩn mực đã quy định thành pháp luật, thành quy ước của cộng đồng, coi trọng giáo dục hướng thiện, làm điều nhân nghĩa, tuân thủ pháp luật, tránh làm điều ác và thói hư, tật xấu. Đồng thời giữ nghiêm phép nước, những kẻ vi phạm pháp luật phải nghiêm trị, bất cứ kẻ đó là ai. Nên ông được đương thời ca ngợi là công minh, chính trực, đồng lưu kính nể, triều đình tin cậy.
Được triều đình giao trọng trách cùng với một số đại thần biên soạn “Hoàng triều đạo điển” và “Hình luật quốc gia”. Do có công lớn, ngài được phong Luật quốc công và cha, mẹ, vợ, con đều được vịnh phong. Bố và ông nội được phong tước hầu; mẹ và vợ được phong phu nhân, các con được phong đại phu hữu bật.
Luật Quốc công rất quan tâm xây dựng gia đình, dòng họ là nền tảng của xã hội. Ngài khuyên răn con cháu, nhắc nhở mọi người: muốn trở thành người chân chính, ích nước, lợi nhà lấy chính tâm, tu thân là gốc, tu dưỡng về đạo đức, bồi dưỡng về trí tuệ, rèn luyện về thể chất là 3 phép mầu tạo nên sức mạnh của con người trên bước đường thành đạt. Nhân nghĩa, đạo đức là nền tảng cho tài năng phát triển, tài năng một phần rất nhỏ do thiên tư, chủ yếu là do học tập, rèn luyện, học tập suốt đời “bể học vô bờ, tài năng là bến”. Từ quan điểm đó ngài xây dựng họ Lê Đình thành dòng họ thế phiệt, ít có gia đình 3 đời đều đậu đại khoa (cha đậu Bảng nhãn, con và cháu đậu Tiến sĩ) và ít có dòng họ được phong ngũ đẳng tước (công, hầu, bá, tử, nam) là bậc thang tước vị của các triều đại trước.
Năm 70 tuổi ngài xin về trí sĩ. Vua Trần Minh Tông lưu luyến không rời, có bài thơ tiễn biệt.
TIỄN ÔNG VỀ
Hơn bốn mươi năm nơi gác phượng
Bao phen phò tá việc triều đình
Bốn triều hưng để lòng son đỏ
Một buổi chia ly động cảm tình
Y Doãn, Chu Công chưa bằng được
Bảo Nha, Quản Trọng đã nên tranh
An chi lão giả như công nguyện
Mình trẫm giang sơn thức suốt canh.
Về quê ngài hòa đồng với nhân dân, cùng với nhân dân xây dựng quê hương ngày thêm hưng thịnh. Động viên mọi người cần cù lao động, mở trường học, chấn hưng hương ước, sửa sang chùa chiền, miếu mạo. Ngài được nhân dân rất quý trọng, thường gọi là Quan già Luật.
Lê Thân quy tiên ngày 20 tháng 10 năm Mậu Dần (1338) thọ 85 tuổi. Được tin ngài mất, triều đình cử quan tham tri về tế điếu, lập đền thờ, dựng bia ghi công đức. Sắc phong “Duệ hiệu Trung liệt, dựng vận công thần, Thái phó, Luật quốc công, phúc thần” làng Vĩnh Duyên, hương Cổ Na, nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn.
Đền thờ, lăng mộ của ngài ở cánh đồng Vặng, thường gọi là miếu Quan già. Trải mấy trăm năm nhân dân hương khói phụng thờ. Nay tình hình biến đổi, xin ngài và đã được các cấp có thẩm quyền chấp thuận, đền thờ và lăng mộ chuyển vào khu danh thắng Na Sơn và đã được công nhận “Di tích lịch sử, Văn hóa”, muôn đời sáng ngời sự nghiệp.
Nông Cống khai khoa thiên hạ thức
Thanh Hóa quốc tước cộng đồng tri
Lê Nguyên Thành